-
Biển Mùa Đông...nhớ
- Rep Power
- 25
Thơ Haicu.
Dân tộc Nhật Bản có hai thể thơ chính là tanka và haiku. Thơ haiku là một thể thơ rất Nhật Bản, là linh hồn văn hóa xứ Phù Tang. Cho nên, nói đến văn học Nhật Bản người ta không quên nói đến thơ haiku. Ngày nay, thơ haiku không còn là của riêng dân tộc Nhật Bản mà nó trở thành thể thơ của quốc tế - một thể thơ của mọi người cảm nhận và sáng tác. Vậy từ đâu có tên gọi là haiku? Haiku có nghĩa là gì ?
1. Thời hiện đại (1868 đến nay)
Đến giữa thế kỉ XIX Nhật Bản mới mở cửa giao lưu với các nước ngoại quốc kể từ sau chính sách “tỏa quốc” [3, trang 292] thế kỉ XVI. Rồi các hiệp ước được kí kết với Mĩ, Anh, Pháp, Hà Lan và Nga lần lượt ra đời. Chế độ Mạc phủ tướng quân bị tan rã. Quyền lực thuộc về thiên hoàng được phục hồi. Thiên hoàng mới là Meiji mới 15 tuổi. Từ đây, năm 1868 thời đại Meiji bắt đầu. Kinh đô Edo được đổi thành Tokyo. Nước Nhật lao vào cuộc Duy tân. Nền văn hóa, giáo dục phương Tây được du nhập vào Nhật Bản. Sinh viên Nhật Bản du học sang các nước phương Tây như ở thời Nara, Heian người Nhật từng sang Trung Quốc. Cuộc Duy tân Meiji đã làm bùng nổ sức mạnh của Nhật. Nhật gây chiến tranh với Trung Quốc, Nga rồi ngang nhiên sáp nhập Triều Tiên vào quần đảo của mình. Khi thiên hoàng Meiji qua đời vào năm 1912 và cuối thế chiến thứ nhất Nhật trở thành cường quốc lớn của thế giới. Sau đó, Taisho kế vị. Năm 1926, kỉ nguyên Showa bắt đầu với những rối loạn chính trị và tập đoàn Quân phiệt gây chiến dẫn đến nước Nhật thảm bại trong điêu tàn. Trong sáu năm tiếp theo, nước Nhật chịu sự chiếm đóng của quân Đồng minh là Mĩ. Năm 1947 Nhật Bản thi hành hiến pháp mới xem thiên hoàng “chỉ là biểu tượng của quốc gia” [3, trang 294] từ bỏ vũ lực quân sự… Từ đó, Nhật khôi phục kinh tế. Sau hai thập kỉ, Nhật trở thành quốc gia cường thịnh của thế giới.
Trong thời kì này, nền giáo dục Nhật Bản đã thành công rực rỡ với các công trình nghiên cứu khoa học đoạt giải Nobel như: Yukawa, Hideki và Tomogana Shinichiro. Còn về nghệ thuật ngành điện ảnh đã nhanh chóng phát triển. Về phương diện văn học làn sóng văn học phương Tây đã bắt đầu tràn vào Nhật Bản từ những năm 1880 qua các bản dịch. Tác phẩm đầu tiên của văn học Nhật hiện đại là tiểu thuyết Ukigumo (Phù vân) 1887 của Futabotei Shibei. Sau đó hàng loạt các nhà văn lớn thời Meiji là Mori Ogai, Nagaikafu, Natrumei, Soseki… Họ thể hiện những băn khoăn đau khổ của con người trong cuộc sống đầy những giằng xé giữa mới và cũ. Đến thời Taisho xuất hiện truyện ngắn xuất sắc của Akutagwa Ryunosuke. Sang kỉ nguyên Shona lại là thời đại cực kì phong phú của văn học Nhật. Kawabata Yasunari và Oe Kenzaburoo đã vượt lên trên các nhà văn thơ cùng thời vươn ra thế giới nhận giải Nobel mang về vinh quang cho nền văn học xứ sở Phù Tang. Nhìn chung, tác phẩm của nhà văn hiện đại Nhật Bản ngày càng có tính quốc tế hơn trong đề tài và phong cách, nhưng vẫn giữ được nét đẹp riêng độc đáo của Nhật Bản.
Hiện nay, Nhật Bản đang đối đầu với những bất ổn của xã hội và kinh tế. Nước Nhật đã hiện đại hóa với một tốc độ chóng mặt và dường như tâm hồn Nhật cũng chịu sự căng thẳng và khủng hoảng nên những giá trị văn hóa là những gì ổn định nhất cần phải bảo tồn và phát triển.
Thời hiện đại của Nhật Bản là thời mọi giá trị của Nhật bản được vươn mình, soãi cánh ra thế giới trong đó có cả văn học Nhật Bản cũng đang là đối tượng được thế giới quan tâm. Đây cũng là thời kì đăng quang của các cây bút văn xuôi lỗi lạc.
2. Thơ haiku
Dân tộc Nhật Bản có hai thể thơ chính là tanka và haiku. Thơ haiku là một thể thơ rất Nhật Bản, là linh hồn văn hóa xứ Phù Tang. Cho nên, nói đến văn học Nhật Bản người ta không quên nói đến thơ haiku. Ngày nay, thơ haiku không còn là của riêng dân tộc Nhật Bản mà nó trở thành thể thơ của quốc tế - một thể thơ của mọi người cảm nhận và sáng tác. Vậy từ đâu có tên gọi là haiku ? Haiku có nghĩa là gì ?
2.1. Nguồn gốc ra đời
Như chúng ta đã biết thể thơ khởi đầu của dân tộc Nhật bản là thể tanka (tức Đoản ca hay còn gọi là Wa-ka hay Hòa ca) với 31 âm tiết, ngắt nhịp theo kiểu: 5-7-5-7-7 và bài thơ tanka sau đây được xem là bài thơ mở đầu cho thơ ca Nhật Bản:
Tám tầng mây dựng
Ở xứ Izumo
Ta làm tám tầng mây xa
Tám tầng mây ấy
Che chở người vợ ta.
Là bài thơ mà thần Susanoo làm tặng người vợ yêu quý của mình là nàng Kushinada. Theo H. H. Honda thì một bài thơ tanka tựa như “Hoa anh đào ẩn hiện trong sương mờ mùa xuân”. Còn thơ haiku thì ngắn hơn nữa. Từ haiku theo âm Hán Việt là “hài cú”. Nó không xuất hiện vào thời Basho mà về sau mới có. Thử nhìn vào một bài thơ haiku sau đây sẽ dễ hiểu hơn :
Dậy đi thôi
Cùng ta kết bạn
Cánh bướm ngủ say ơi !
Đấy là một bài thơ rất ngắn. Cả bài chỉ có 17 âm tiết (17 onji), đôi khi cũng không nhất thiết phải thế. Một bài thơ như thế, Basho gọi là hokku (phát cú) tức là thơ khởi xướng của một bài renga (liên ca). Thơ renga được giải thích như sau: Thơ renga là thơ xướng họa có từ rất lâu đời trong văn học Nhật. Từ một bài tanka 31 âm tiết, 5 dòng được tách ra hai phần để cho mọi
người xướng thơ với nhau (phần ba câu đầu gọi là thượng cú, phần hai câu sau gọi là hạ cú). Renga ra đời là như thế. Ví dụ như một bài thơ trong Shui shu (Thập di tập 997).
Qua rồi nửa đêm
Chờ nhau chi nữa
Cho thêm ưu phiền
Một tiểu thư đã gửi cho người tình của mình phần đầu bài tanka với ba câu như trên với ý trách móc người yêu lỗi hẹn. Sau đó, người ấy nhận được và làm tiếp phần còn lại thành một bài tanka trọn vẹn.
Muốn gặp em trong mộng
Nhưng rồi anh ngủ quên.
Một bài tanka được sáng tác như trên gọi là renga. Giới quý tộc thời Heian rất thích lối sáng tác như thế và trở thành cuộc vui xướng thơ của họ. Sang thời Mạc Phủ Kamakura thì thể renga từ một bài tanka như thế được nối dài ra thành một chuỗi thơ vô tận với hàng chục đoạn,
hàng trăm đoạn… do các nhà thơ họa nối theo nhau.
Đến thế kỷ XIV, lý luận về thơ renga ra đời với quy tắc chặt chẽ do nhà thơ tanka Nijo Yoshimoto nổi tiếng lúc bấy giờ biên soạn.
Bước sang thế kỷ XV thì thơ renga đã vươn lên đến đỉnh cao thực sự của mình. Thơ renga trở thành niềm say mê đế mức được tôn thờ như một tín ngưỡng “thiêng liêng hóa”. Người ta mua các bài thơ renga từ các nhà thơ đem đến vườn chùa để cầu phúc trước khi đi chiến đấu hay sinh nở. Cũng trong giai đoạn này các trường phái renga ra đời. Đó là phái Ushin (hữu tâm) theo phong cách tao nhã của thơ ca truyền thống và phái Mushin (vô tâm) của sự dung tục và đùa cợt trong thơ. Ban đầu phái Ushin chiếm ưu thế với đỉnh cao là Sogi. Lúc này, đoạn thơ khởi xướng phần thượng cú gọi là hokku viết với hình thức 17 âm tiết (5-7-5) đã chiếm một vị trí đặc biệt thường do các nhà thơ nổi tiếng soạn trước. Phần còn lại dành cho các đối tác khác thích xướng họa. Về sau đến thời Edo thì phái Mushin lại tạo được danh thế với thể renga trào lộng còn gọi là haikai no renga (bài hài liên ca), gọi tắt là haikai, do tầng lớp thị dân thích đùa cợt phóng túng. Đồng thời thể haikai cũng dễ sa vào sự dung tục chắp nối, gượng ép thiếu tâm hồn thơ. Chính Soin (1605-1682) đã góp phần đưa haikai ra khỏi sự dung tục và giải trí đơn
thuần. Rồi định mệnh lại an bài haikai cho Basho. Thiên tài Basho đã đưa haikai thoát khỏi lối chơi tầm thường bằng sự dung hợp cả cái vô tâm lẫn hữu tâm, sự trào lộng đời thường của haikai hiện đại với sự tao nhã tâm linh của renga cổ điển vào trong 17 âm tiết của một bài hokku. Từ đấy, hokku không phụ thuộc vào renga nữa, nó trở thành một thể thơ độc lập và có tên là haikai hay haiku. Tên gọi này có từ thời nhà thơ Shiki (1867-1902) trở đi. Haiku là do cách ghép thu gọn của hai từ haikai và hokku lại thành. Có thể nói renga đã làm nảy sinh một thể thơ độc đáo là haiku. Thơ haiku là một thể thơ độc đáo mang phong vị Thiền. Mỗi bài thơ được ví như một chiếc gương soi rọi thiên nhiên của bốn mùa và tâm hồn của nghìn đời.
Từ đấy, thơ haiku phổ biến trên khắp thế giới nên các bài thơ 17 âm tiết như thế của Basho và người cùng thời với ông vẫn gọi tên ấy. Tên gọi haiku rất phổ biến trên sách báo tiếng Anh. Các từ haiku, hokku, haikai vẫn dược dùng lẫn lộn. Khi đến Việt Nam cũng thế, đặc biệt, ở trường Phổ thông gọi là haiku. Thơ haiku khi dịch ra tiếng nước ngoài thường được xếp thành ba dòng trông như ba câu. Còn trong chữ Nhật thì một bài haiku thường nằm gọn trên một dòng. Đây là nét riêng biệt của thơ haiku không thể lẫn với bất cứ thể thơ nào khác.
Thơ haiku là khúc ca của bốn mùa. Mỗi bài thơ haiku đều có quí ngữ (kigo hay từ ngữ báo hiệu mùa). Nội dung thơ cô đọng trong cái cực ngắn. Thơ haiku chỉ miêu tả những cái gì ở thực tại và lặng thinh. Khoảng lặng ấy là “khoảng trống” của “chân không”. Ở thực tại là sự vật xuất hiện ngay thời khắc tinh khôi nhất như một đóa hoa triêu nhan
A ! Hoa asagao
Chiếc gàu vương hoa bên giếng
Đành xin nước nhà bên.
(Chiyo)
Thơ haiku lấy thiên nhiên làm chủ đề và bộc lộ cảm xúc cô tịch (sabi), aware (bi ai), wabi (đà), karumi (khinh). Thơ haiku còn thể hiện triết lí về “thiên nhiên”. Tác giả Nhật Chiêu cảm nhận về thơ haiku như sau: “Một bài thơ haiku có thể chứa ba chiều của vũ trụ. Còn chiều thứ tư để dành cho người đọc” [5, trang 22]. Hay nhà thơ Paul (Pháp) cũng nói: “Tôi viết nửa bài thơ. Người đọc viết phần còn lại.” [5, trang 22]. Đó là những nội dung mà thơ haiku diễn đạt.
Vậy, thơ haiku có nguồn gốc từ thơ ca truyền thống Nhật Bản.
2.2. Quá trình phát triển
Thơ haiku có một quá trình ra đời lâu dài và phát triển thật mạnh mẽ. Thơ haiku ra đời từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII, nó đạt tới đỉnh cao với Basho. Sau Basho còn có rất nhiều nhà thơ đã chọn haiku làm “con đường” để bước vào trong nghệ thuật, vào trong một lối sống, vào một “đạo” và mang những triết lí sâu sắc gọi là “hài cú đạo” (haikudo) hay “haiku no michi”. Đó là các nhà thơ Buson (1716-1784) “thi sĩ của mùa xuân” [6, trang 279], là Issa (1762-1826) “nhà thơ của nhân tình” [6, trang 282], là shiki (1867-1902), Onitsura (1660-1738), là Ryokan – “kẻ đại ngu” [6, trang 285]… Đối với họ sáng tác thơ haiku không chỉ là niềm vui mà còn là lối sống. Thơ haiku đến với họ bằng “con đường”, tức cái đạo mà thơ haiku chứa ở trong nó. Đấy là con đường sâu thẳm trong cái bình thường giản dị nhất giữa cuộc đời như Tagore đã từng nói: “Trong vội vã, ta bỏ quên những bông hoa bên hàng giậu ven đường…”.
Hiện nay, Nhật Bản “tiếp tục” phát triển thơ haiku. Bài thơ haiku sau do Tiến sĩ Đoàn Lê Giang dịch từ thơ của tác giả Ozakihosai trong báo Tài hoa trẻ số 325:
Chỉ một tiếng ho thôi
Cũng một con người.
Thay vì haiku cổ điển gồm ba câu nhưng ở đây tác giả chỉ dùng hai câu như để thể nghiệm cho thơ ở bước hiện đại. Xét đến cùng thì thơ haiku vẫn đến với mọi người bằng tinh thần Thiền tông đề cao thiên nhiên, đề cao cái đẹp thô sơ, mộc mạc, tầm thường, nhỏ bé nhưng chẳng
tầm thường chút nào. Khi thơ haiku tỏa ra thế giới hay “haiku đã vươn xa ra ngoài biên giới Nhật, trở thành một dòng thơ của thế giới, ảnh hưởng đến thơ ca hiện đại. Thơ ca phương Tây trong những tìm kiếm và thể nghiệm của mình, đã nhiều lần đi theo phong thái haiku” [6, trang 183]. Thơ haiku được mọi người đón nhận nồng nhiệt. Người ta dịch thơ haiku từ tiếng Nhật, rồi nghiên cứu, khám phá những gì mà linh hồn thơ haiku chất chứa. Giới yêu thơ còn sáng tác thơ haiku bằng tiếng dân tộc mình như tác giả Nhật Chiêu đã trình bày: “Nói một cách chừng mực hơn, thơ haiku mà Basho đã hoàn thiện bằng thiên tài của mình, trở nên thể thơ quốc tế trong thế kỉ XX. Bên ngoài Nhật Bản, haiku chẳng những được nghiên cứu rộng rãi mà còn được các nhà thơ ở nhiều xứ khác nhau sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình, trong đó có cả Paul Eluard của Pháp, Octavio Paz của Tây Ban Nha và George Seferis của Hi Lạp”. [6, trang 274]. Ở Việt
Nam, Trịnh Công Sơn, Chế Lan Viên… cũng đã từng tiếp thu, ảnh hưởng thơ haiku. Vậy, Thơ haiku bắt đầu hình thành vào thế kỉ XVI, đạt đỉnh cao ở thế kỉ XVII với Basho. Đến cuối thế kỉ XIX được nhà thơ Shiki định danh là haiku. Ngày nay, haiku lan ra thế giới thành một thể thơ được quốc tế đón nhận.
(st)
Last edited by Duyen Kelly; 02-09-2009 at 07:48 PM.
Reason: Như anh Joey nói, chị nên xem lại cách trình bày trước khi post bài nhé chị :)
-
-
Re: Thơ Haicu.
Đây là thể loại thơ khó hiểu vô cùng. Phải là người có đầu óc và kinh nghiệm mới hiểu nổi. Hồi học mấy bài thơ hai-cư lớp 10 đó, bó tay luôn. Công nhận, trường phái thơ hai cư này quá khó.
-
-
Banned
- Rep Power
- 0
Re: Thơ Haicu.
Khó gì đâu p... Chỉ là những câu nói bình thường... Nhưng có chọn loc + ngắn gọn + diễn tả đủ ý =>xuất phát từ ngẫu hứng mà mạch cảm xúc của nhà thơ...^^
-
-
-
Teaching Staff
- Rep Power
- 112
Cảm xúc thẩm mỹ trong thơ haikư của Basho
Trích từ giáo trình Văn học châu Á - tài liệu pdf, phần viết về đặc trưng thi pháp thơ haikư của Basho:
Cảm xúc thẩm mĩ và nghệ thuật thơ Basho
2.1 Cảm xúc thẩm mỹ
Cảm xúc thứ nhất khá quen thuộc trong thi ca Nhật là sabi (tịch). Có thể diễn giải ra là : cô liêu, tịch lặng, cổ xưa, đơn sơ . . . Cảm thức này bắt gặp thiền tông một cách chan hoà, thấm sâu vào tâm hồn Nhật bản làm nên sinh mệnh nền văn hoá này.
Lại có hai phạm trù phụ thuộc cảm hứng này là « vô tận» và « tự nhiên »
Biển tối dần
tiếng kêu chim nhạn
trắng màu trong đêm
Nhà thơ nhìn thấy màu trắng của âm thanh - tiếng chim kêu trong đêm . Đây
chẳng phải là “phép tu từ, chuyển nghiã, chuyển cảm giác” như người ta thường phẩm bình một cách sáo mòn , công thức những thơ ca khác . Đó là cảm thức của nhà thơ thiền Basho .
Cảm xúc thứ hai của lí tưởng thẩm mỹ Nhật là wabi, nghĩa là cái đẹp cao nhất nằm trong vẻ đơn sơ và thanh tịnh. Nó được phát triển trong trà đạo (chado) .
Chén trà tao nhã là hoá thân của đất sét đơn sơ. Chất nước thanh khiết trong bình hoà với những chiếc lá đơn sơ . Bồ Tát hay Phật cũng là sự chuyển hoá từ một thứ đất sét đơn sơ nào đó , rồi trở thành chúng sinh.
Tinh thần Trà đạo ngấm vào thơ ca. Thơ haiku không lộng lẫy khoa trương, rực rỡ , đạo của nó là trái tim bình thường .
Mái lều im
một con chim gõ kiến
gõ ngoài trụ hiên
Người nóng vội sẽ hỏi : rồi sao nữa ? Chỉ có con chim gõ kiến đang gõ bên
ngoài cái lều im ắng của một thiền sư hay ẩn sĩ. Tự tiếng gõ ấy đã đủ đâu cần thêm gì nữa ! Cũng như con quạ, con ếch, con chim gõ kiến gõ vào cái cô tịch nhịp điệu bình thường của cuộc sống.
Cảm xúc thẩm mỹ thứ ba là aware, chữ Hán là “bi ai”. Cảm thức này đã
có từ thế kỉ 11 với tiểu thuyết Genji của Murasaki, sử dụng hơn một ngàn lần
trong bộ sách đó . Bi ai là cảm giác xao xuyến trước vẻ đẹp não lòng của sự vật , nó như một âm vang , những gì đã qua, sắp qua tác động vào ta như một âm vang, bi cảm thâm trầm
Trăng rụng rồi
Bốn góc bàn quen thuộc
còn lại mà thôi .
Bài thơ nói về cái chết của một người bạn. Trăng tượng trưng cho cái chết . Bốn góc bàn nơi người ấy thường ngồi bên . Đó chẳng phải là bi kịch , bởi sự sống và cái chết cũng đơn giản như bốn góc bàn ấy thôi .
2.2 Đặc điểm nghệ thuật
Đặc điểm đầu tiên của haiku là cô đọng, ý ở ngoài lời . Thơ ca Á Đông nhìn
chung cô đọng , như tứ tuyệt ( Trung Hoa), tanka (Nhật), sijo ( Triều Tiên ) , ca dao Việt Nam, . . . Đấy là “những bàn tay nắm chặt” nên có sức mạnh lớn lao không ngờ
Nhà thơ Chile Pablo Neruda viết về haiku rằng “ lời lẽ đôi khi thu nhỏ lại ”
Nhà phê bình Pháp Rolland Barthes có ý kiến “ Sự ngắn gọn của haiku không
phải là vấn đề hình thức, haiku không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn mà là sự tình vắn tắt đã tìm được hình thức vừa vặn của nó ”. Chúng tôi nghĩ nhận xét của Rolland xác đáng hơn cả .
Dân tộc Nhật đã tìm ra haiku – con đường thơ ca mảnh mai 17 âm tiết đã đưa họ đi rất xa trên những con đường sâu thẳm . Haiku không phải loại thơ dùng sự ít lời để nói lên nhiều điều. Haiku thích sự đơn sơ, nhỏ nhắn nhưng không bị lèn chật cứng . Nó trống trải và im lặng . Có khi nó chỉ ra sự vật mà không giải thích hay miêu tả :
Matsushima ya
A matsushima ya
Matsushi ma ya .
Bài thơ này không cần dịch . Bài thơ ba lần nhắc tên thắng cảnh «Matsushima» (Matsushima là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của
Nhật) kèm thán từ a, ya bộc lộ cảm xúc chứ không nói gì khác .
Thơ haiku ngây thơ hồn nhiên một cách hiền minh, và hiền minh một cách ngây thơ.
Trong tranh thuỷ mặc Trung Hoa và Nhật có phong cách vẽ «tranh một góc».
Khoảng trống chiếm hầu hết bức tranh, vì hoạ sĩ không muốn « đầy ». Đấy là
cái chân không sinh động . « Cái chân không » ấy có trong trà đạo, vườn đá,
vườn cảnh, thuật cắm hoa . . . và cả trong haiku. Chẳng hạn trong vườn cảnh sơn thuỷ, không cần sum sê chi tiết, không cần dòng nước, chỉ dùng cát để diễn đạt cả nước và sự bao la.
Basho chỉ với một chiếc lá mà diễn tả cả cuộc sống của cây cỏ, mùa màng và vũ trụ thiên nhiên :
Lá thuỷ tiên dưới làn tuyết rơi
nhè nhẹ trĩu mình .
Thi hào Tagor Ấn Độ nhận xét : « Nhà thơ haiku chỉ giới thiệu đề tài, rồi bước
tránh sang một bên » .
Basho tạo ra truyền thống của thơ haiku, bao giờ cũng gắn bài thơ với mùa và thiên nhiên, nhiều khi đặt tên cho bài thơ bằng mùa .
Tóm lại, thi pháp thơ haiku biểu hiện mỹ học Thiền (Zen : phiên âm Nhật ngữ , Chán : phiên âm Hán ngữ ) đồng thời thu hút tinh hoa mỹ học dân tộc Nhật.
Người Nhật ưa sống thanh nhã, yêu cái đẹp giản dị, trọng danh dự, tâm hồn mở rộng đến thiên nhiên . Dường như mỗi người nông dân Nhật đều có thể là một nhà mỹ học, một nghệ sĩ biết cảm thụ cái đẹp từ thiên nhiên. Người Nhật sẵn sàng đi thật xa để ngắm một cảnh vật đẹp nhỏ bé nào đó. Một quả núi, một hòn đá lớn, một con suối, một thác nước . . .được người ta sùng bái thì đều gắn vào hình tượng trong các ngôi đền thờ Khổng Tử, Phật Thích ca. Nghệ thuật Nhật nảy sinh từ lòng tôn thờ vẻ đẹp toát ra từ tổng thể hoà điệu của thế giới xung quanh ấy . Và Basho là một điển hình của tinh thần Nhật bản.
-
Posting Permissions
- You may not post new threads
- You may not post replies
- You may not post attachments
- You may not edit your posts
Forum Rules
Bookmarks