+ Reply to Thread
Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 12

Thread: Giai thoại làng Văn

  1. #1
    Teaching Staff tranhanam's Avatar
    Join Date
    Dec 2005
    Location
    Quy Nhon city
    Posts
    1,031
    Rep Power
    112

    Giai thoại làng Văn

    Các nhà văn nhà thơ của ta có nhiều giai thoại độc đáo. Xin mở màn bằng giai thoại về hai nhà văn có tên trong chương trình 11 Ngữ Văn, được đứng cạnh nhau. Chẳng biết vô tình hay cố ý mà các nhà soạn sách đã để Nguyễn Bính đứng trước Anh Thơ trong sách giáo khoa.
    Chuyện kể, ngày trước Nguyễn Bính mê Anh Thơ mà không dám nói rõ, đành mượn thơ mà ngỏ. Thơ rằng:
    Anh đi không hẹn ngày về
    Chỉ thề ai buộc, tóc thề ai chôn?
    Muốn gì anh muốn gì hơn
    Hôn hoàng nay, lại hoàng hôn mai ngày
    Môi khô vóc liễu thêm gầy
    Anh xa, em kẻ lông mày với ai
    Thơ không làm trọn một bài
    Đàn không gảy trọn một vài khúc ngâm
    Ông tơ già quá nên nhầm
    Ai làm sum họp, ai làm chia phôi
    Chẳng thà đừng kết duyên đôi
    Có cho sum họp để rồi xa nhau
    Tính năm tính tháng thêm sầu
    Ấy hai con én ngang lầu bay bay...

    Bạn đọc bài thơ này, thấy có gì đặc biệt không? Xem thử ai là người phát hiện nhanh nhất uẩn khúc trong những câu thơ này nào?
    Vì một LSSF phát triển!
    BLOG CHUYÊN ANH
    BLOG CHUYÊN VĂN
    MUỐN NGƯỜI KHÁC TÔN TRỌNG TRƯỚC HẾT PHẢI HIỂU THẾ NÀO LÀ TỰ TRỌNG
    Spoiler:

  2. #2
    Advanced Member khanhhung_qn's Avatar
    Join Date
    Jun 2008
    Age
    18
    Posts
    209
    Rep Power
    22

    Re: Giai thoại làng Văn

    hihi, em xin được phép phát hiện
    Anh chỉ muốn hôn môi Anh Thơ, đàn ông ai chẳng có tính ấy.
    ghép các chữ đầu câu thơ lại phải ko ạ?

  3. #3
    Thượng Khách
    Join Date
    Jun 2006
    Age
    24
    Posts
    1,643
    Rep Power
    126

    Re: Giai thoại làng Văn

    Hồi năm 11 hay 12 gì đó, em có đọc một truyện cười đăng trên Tạp chí Văn học của NXB GD. Chuyện thế này:
    Nhà văn Nguyễn Khải nổi tiếng với các tác phẩm truyện, kí...Trong các tác phẩm của mình, nhà văn thường trình bày các quan điểm của mình về cuộc sống hơi cao siêu, rất khó để học sinh cảm nhận đúng.
    Có lần, cô giáo yêu cầu con của nhà văn làm bài phân tích về tác phẩm "Mùa lạc". Cậu con lười nên nhờ cha mình làm giùm. Ai dè, đến khi trả bài cô giáo phê "Không hiểu ý tác giả" (trong khi Nguyễn Khải chính là tác giả của "Mùa lạc" ).

    Do cũng đã 4-5 năm nên em không biết là em có kể chính xác hay không nữa? Thầy Nam hay thành viên nào nếu phát hiện lỗi sai (nếu có) thì nhắc giùm em. Em xin cám ơn trước.
    Một cây làm chẳng nên non,
    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao!


    My email: xquang_ls@ddhsonline.com

  4. #4
    nhok_cầu_cảng
    Guest

    Re: Giai thoại làng Văn

    Thầy Trần Nam còn bài nào dạng như vậy hum thầy, cho xem xin .em thích mấy bài dạng này lắm.

  5. #5
    Teaching Staff tranhanam's Avatar
    Join Date
    Dec 2005
    Location
    Quy Nhon city
    Posts
    1,031
    Rep Power
    112

    Re: Giai thoại làng Văn

    Quote Originally Posted by xquang_ls View Post
    Hồi năm 11 hay 12 gì đó, em có đọc một truyện cười đăng trên Tạp chí Văn học của NXB GD. Chuyện thế này:
    Nhà văn Nguyễn Khải nổi tiếng với các tác phẩm truyện, kí...Trong các tác phẩm của mình, nhà văn thường trình bày các quan điểm của mình về cuộc sống hơi cao siêu, rất khó để học sinh cảm nhận đúng.
    Có lần, cô giáo yêu cầu con của nhà văn làm bài phân tích về tác phẩm "Mùa lạc". Cậu con lười nên nhờ cha mình làm giùm. Ai dè, đến khi trả bài cô giáo phê "Không hiểu ý tác giả" (trong khi Nguyễn Khải chính là tác giả của "Mùa lạc" ).

    Do cũng đã 4-5 năm nên em không biết là em có kể chính xác hay không nữa? Thầy Nam hay thành viên nào nếu phát hiện lỗi sai (nếu có) thì nhắc giùm em. Em xin cám ơn trước.
    Giai thoại này đăng trên Văn học và Học văn! Xuân Quang nhớ chính xác đó!
    Không chỉ như vậy! Nhà văn Võ Huy Tâm, tác giả của tiểu thuyết "Vùng mỏ" từng đạt giải thưởng văn nghệ kháng chiến chống Pháp, được đưa vào chương trình Văn cũ trước kia cũng có câu chuyện còn...thê thảm hơn!
    Số là, khi viết "Vùng mỏ", Võ Huy Tâm còn là công nhân ít học nên sau này khi đã nổi tiếng, ông vẫn phải đi học bổ túc văn hoá. Một hôm, cô giáo dạy Văn cho đề phân tích tác phẩm "Vùng mỏ", Vọ Huy Tâm thích quá, bèn viết liền một mạch, ai dè khi trả bài, bài của ông chỉ được 1 điểm cùng lời phê: chưa hiểu nội dung của tác phẩm. Nhà văn tức quá, xin gặp cô giáo, nói gay gắt: tôi là tác giả cuốn tiểu thuyết này, sao lại không hiểu nội dung? Cô giáo ôn tồn phân tích cho Võ Huy Tâm về giá trị nhận thức -giá trị tư tưởng - giá trị...Võ Huy Tâm nghe xong, gật gù: Cô giáo nói hay quá, bây giờ tôi mới nhận rõ giá trị tác phẩm này, cô xứng đáng 10 điểm, còn tôi đúng là chỉ đáng 1 điểm.
    Thế mới biết, từ ý đồ sáng tác ban đầu đến khi tác phẩm đến với công chúng, việc tiếp nhận đã khiến tác phẩm vượt ra khỏi chủ đề tư tưởng ban đầu của nhà văn! (Góp thêm ý nói lén: hồi viết tác phẩm, ông Võ Huy Tâm chỉ viết hồn nhiên như một công nhân, có sao nói vậy, nhưng bản thân hiện thực quá sinh động nên đã đáp ứng đúng đòi hỏi phản ánh bản chất giai cấp công nhân, vai trò của cách mạng giác ngộ quần chúng...Điều này thì Võ Huy Tâm phải tâm phục khẩu phục cô giáo! Có học có khác!)
    Vì một LSSF phát triển!
    BLOG CHUYÊN ANH
    BLOG CHUYÊN VĂN
    MUỐN NGƯỜI KHÁC TÔN TRỌNG TRƯỚC HẾT PHẢI HIỂU THẾ NÀO LÀ TỰ TRỌNG
    Spoiler:

  6. #6
    Eliter nana's Avatar
    Join Date
    Dec 2005
    Age
    21
    Posts
    358
    Rep Power
    51

    Re: Giai thoại làng Văn

    Mới đây, nana đọc được trong cuốn Giai thoại kẻ sĩ Việt Nam mới biết rõ hơn về bài thơ Khóc Tổng Cóc của Hồ Xuân Hương
    Thực ra bài thơ không phải viết lúc Tổng Cóc chết, đó hoàn toàn không phải bài thơ khóc chồng, oán duyên.
    Tổng Cóc trước được gọi là Tổng Kình, là người có học thức, hào hoa phong nhã. Tổng Kình gặp Hồ Xuân Hương và được cha bà kết duyên. Đã phải duyên với nhau nên Xuân Hương mới chịu làm lẽ.
    Nhưng Xuân Hương là phận nữ nhi mà thường giao du với bạn thơ nên chính thất lẫn chồng không hài lòng, lâu dần phai nhạt tình cảm.
    Xuân Hương không chịu nỗi cảnh bạc bẽo nên mới bỏ đi và sang ở Phủ Vĩnh Tường. Bài thơ Khóc Tổng Cóc được bà làm trong lúc này gửi về tặng chồng, khóc cho mối duyên đã chết, cũng từ đó mọi người gọi Tổng Kình là Tổng Cóc.

    Ta có một trái tim
    Yêu một người trên đời


  7. #7
    Thượng Khách
    Join Date
    Jun 2006
    Age
    24
    Posts
    1,643
    Rep Power
    126

    Re: Giai thoại làng Văn

    GIAI THOẠI VỀ CỤ TAM NGUYÊN YÊN ĐỔ

    Năm 1902, vua Thành Thái tuần du Bắc Hà kết hợp làm lễ trấn yểm cầu sông Cái Long Biên Hà Nội mà người Pháp đặt tên là Pôn- Đuyme, lấy tên viên Toàn quyền Đông Dương thời kỳ này, dự lễ trấn yểm có Vua nên tất cả các quan lại đại thần, các vị đại khoa ở Bắc Hà phải có mặt.

    Cụ Nguyễn Khuyến (Tam Nguyên Yên Đổ) mặc dù đã rời quan trường từ mùa thi 1892; song, là quan đại thần, lại đỗ Đại Khoa ( 3 lần đỗ đầu) với hàm Tổng đốc Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang) dù cụ đã cáo quan trên đường đi nhậm chức vì lý do “đau mắt”, cũng được triệu về HN bái yết nhà vua và dự lễ.

    Tất cả các quan khi bái yết nhà vua đều phải tuân theo nghi lễ của triều đình, nghĩa là phải quỳ lạy (phủ phục) và hô “vạn tuế”, đến lượt cụ Tam Nguyên thật trớ trêu cho cụ bởi bà Chánh phi vợ của Thành Thái là con gái TS Nguyễn Trọng Hợp (người làng Kim Lũ, Thanh Trì, Hà Đông, làm tới chức Văn minh điện Đại học sĩ, hàm chánh nhất phẩm, dân địa phương thường gọi là Nghè Lử hoặc Văn Minh Lử), trước đây đã đính ước với con trai cả của cụ là Nguyễn Hoan đỗ Phó bang, sau vì 1 lý do nào đó nên ko thành. Nay nếu buộc phải thực hiện nghi lễ (điều đó là bình thường theo lễ vua-tôi), nhưng nếu lễ vua mà ko lễ vợ vua là ko ổn, mà lễ vợ vua hóa ra cụ phải lễ con dâu trượt của mình, sẽ là trò cười và hơn thế ko thể ko có những bình nghị chẳng hay ho gì, ảnh hưởng đến uy tín nhà nho Đại khoa như cụ.

    Đem theo sĩ khí của nho sĩ Bắc Hà, cụ bái yết nhà vua và chỉ vái 2 cái, ko quỳ lạy như các vị khác, việc làm như vậy là phạm tội “khi quân” tức là khinh vua, có thể bị chém đầu! Có lẽ nhà vua biết uẩn khúc này nên thông cảm chỉ quở trách nhẹ, còn cụ Tam Nguyên thưa:
    - Muôn tâu Hoàng Thượng, thần giờ chỉ như 1 con trâu già, xin đức Khâm thượng khai ân!

    Nhà vua mỉm cười. Song, để giữ phép vua, phép nước và cũng là để giữ uy tín của triều đình. Hơn thế nhà vua còn biết tài ứng khẩu thành thi của cụ nên truyền thánh chỉ:
    - Vậy khanh hãy làm bài thơ “Vịnh trâu già”, nếu hay trẫm miễn tội.
    Cụ ung dung đọc bài thơ theo Đường luật thất ngôn bát cú “Vịnh trâu già” như sau:

    Một nắm xương khô một nắm da,
    Bao nhiêu các ách đã từng qua.
    Đuôi khom biếng vẫy Điền Đan hỏa,
    Tai nặng buồn nghe Ninh Tử Ca.
    Sớm thả Vườn Đào chơi đủng đỉnh,
    Tối về thôn Hạnh thở nghi nga.
    Có người toan giết tô chuồng mới,
    Ơn đức vua Tề lại được tha.


    Bài thơ “xuất khẩu” trên quả là tài tình hiếm có, rất đúng niêm luật, sát đầu đề dù đó là đề tài khó. Hay hơn ở chỗ cụ đã ví mình, một vị quan lại ko còn mẫn cán với triều đình như xưa, nay chỉ như 1 con trâu già, trâu phế canh ko còn tác dụng gì với nhà nông nữa. Bởi nay chỉ còn có da bọc xương do cả đời kéo cày mắc ách, làm lụng vất vả, ăn giả làm thật như trong “Lục súc tranh công” đã tả đó là 2 câu mở đầu.

    Đến câu 3-4, cụ dùng điển tích Trung Quốc để mở rộng ý rằng con trâu còn có công với nước. Đó là chuyện Điền Đan thời Chiến quốc, một tướng nước Tề khi bị nước Yên sang đánh chỉ còn có 1 thành. Điền Đan dụng mưu dùng mồi rơm có tẩm dầu buộc vào đuôi trâu, mài sừng sắc nhọn hoặc gắn kiếm sắc vào sừng, đốt lửa cho trâu sợ xông vào quân Yên. Quân Yên sợ bỏ chạy, nước Tề được phục quốc ~~> Nếu không có trận hỏa công đó chắc chắn nước Tề bị tiêu diệt.

    Hoặc Ninh Tử chính là Ninh Thích khi chưa làm quan, có tài nhưng ko ai biết đến. Ông làm nghề chăn trâu, thường gõ sừng trâu để hát, nói lên chí lớn của mình, để sau đó Quản Trọng dùng làm tướng nước Tề.

    Hai câu 5-6 của bài thơ có từ Vườn Đào, thôn Hạnh xuất xứ từ chuyện Vũ Vương đánh Trụ đã dùng trâu để vận chuyển rất đắc lực. Sau khi diệt Trụ, ông đã ra lệnh 3 năm cấm giết trâu, buổi sớm cho chăn ở Vườn Đào, tối về cho nghỉ ở thôn Hạnh Hoa, 1 làng đẹp của TQ xưa, lại có nghề nấu rượu nổi tiếng ngon như “Tam Quốc chí” đã tả.
    Câu kết “Ơn đức vua Tề” nhắc lại sự tích Tề Tuyên Vương thấy lính dắt trâu đi qua trước thềm, con trâu run rẩy sợ hãi, vua hỏi thì được biết hị dắt trâu đi giết lấy máu làm sơn tô chuồng mới, bèn ra lệnh tha trâu ko giết. Nguyễn Khuyến ví mình như là 1 con trâu già mà người ta chỉ nhăm nhăm muốn giết để ăn thịt, liệu ông ( chỉ vua Thành Thái) có tha mình như vua Tề đã tha trâu ko giết thịt?

    Thành Thái là 1 ông vua tiến bộ, biết được ưu tư của cụ, lại cảm cái khí khái nhà Nho. Nhà vua đánh giá cao bài thơ rất hay và khen câu “ Ơn đức vua Tề”, vì vậy ko những tha tội mà còn thưởng hậu.


    ( st từ Tạp chí Ngân Hàng)
    Một cây làm chẳng nên non,
    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao!


    My email: xquang_ls@ddhsonline.com

  8. #8
    Thượng Khách
    Join Date
    Jun 2006
    Age
    24
    Posts
    1,643
    Rep Power
    126

    Re: Giai thoại làng Văn

    Vài chú thích nho nhỏ cho giai thoại trên, ai quan tâm thì đọc tiếp:
    - Vua Thành Thái: là một vị vua yêu nước nhà Nguyễn. Ông có tinh thần dân tộc, có tư tưởng cấp tiến và chống Pháp rất cao. Vì vậy, ông bị phế truất và đày sang đảo Réunion cùng với con trai mình là vua Duy Tân.
    Réunion chính là nơi đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của VN. Báo Tuổi Trẻ có một loạt phóng sự lịch sự về hậu duệ của vua Thành Thái và vua Duy Tân. Xem thêm.
    - Sông Cái là tên gọi khác của Sông Hồng. Ngoài ra nó còn có tên gọi: sông Thao, sông Nhị Hà, ...
    - Lục súc tranh công: truyện khuyết danh Việt Nam, dài 453 câu, bằng văn vần. Truyện kể về cuộc tranh luận của 6 con vật nuôi trong nhà: trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn. Chúng kể công đối với chủ. Con nọ suy bì với con kia. Trâu kiện chó, chó kiện ngựa, ngựa kiện dê, dê kiện gà, gà kiện lợn. Con nào cũng thấy mình có công trạng với chủ và tố cáo con khác là đồ ăn hại. Chủ thì một mực giảng hoà, khuyên chúng nên thương yêu nhau để cùng nhau phục vụ mình. Qua truyện ngụ ngôn này, hình như tác giả cũng nhận rõ những nỗi bất công trong xã hội, nhưng đứng trên lập trường của giai cấp phong kiến, bất chấp phải trái, ra sức điều hoà mọi mâu thuẫn để đảm bảo lợi ích cho kẻ thống trị. Các con vật kia, theo tác giả phản ánh, cũng chỉ tranh ăn với nhau và đều an phận làm nô lệ phụng sự chủ. Lời văn trau chuốt, không có tính chất bình dân như các tác phẩm khuyết danh thế kỉ 17-18. Nhấn vào đây để đọc.

    - Quản Trọng: một danh nhân nổi tiếng người Trung Quốc. Ông là tác giả của tư tưởng:

    "Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc
    Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
    Chung thân chi kế mạc như thụ nhơn
    Nhứt thu nhứt hoạch giả, cốc dã
    Nhứt thu thập hoạch giả, mộc dã
    Nhứt thu bách hoạch giả, nhơn dã"
    Tạm dịch:

    "Kế một năm, chi bằng trồng lúa
    Kế 10 năm, chi bằng trồng cây
    Kế trọn đời, chi bằng trồng nguời.
    Trồng một, gặt một, ấy là lúa
    Trồng một, gặt mười, ấy là cây
    Trồng một, gặt trăm, ấy là người"

    Sau này, tư tưởng này được Bác Hồ dẫn lại:
    " Vì lợi ích mười năm trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm trồng người".
    Một cây làm chẳng nên non,
    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao!


    My email: xquang_ls@ddhsonline.com

  9. #9
    Khoảng không trong nắng Duyen Kelly's Avatar
    Join Date
    Jun 2009
    Location
    (¯`v´¯)V-AK11[dyn](¯`v´¯)
    Posts
    163
    Rep Power
    21

    Re: Giai thoại làng Văn

    XUÂN DIỆU... HAM ĂN

    Nói tới nhà thơ, lại là một “ông hoàng thơ tình” như Xuân Diệu mà nói chuyện... ăn, e không thích hợp. Nhưng tôi nghĩ khác. Với người nổi tiếng, nhiều khi qua những chuyện ứng xử ăn uống đời thường lại bộc lộ được quan điểm thẩm mỹ của họ. Mà chính điều đó sẽ nói lên được những “tầng ngầm” đã và sẽ làm nên tác phẩm của họ.
    Xuân Diệu có hai câu thơ cực bình dị, mà cực hay: “Có gì thương cho bằng mẹ với con/Có gì ngon cho bằng cơm với cá". Bất giác lại nhớ đến hai câu ca dao mà theo tôi là hay nhất trong ca dao VN: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”. Nhiều lần tháp tùng các cuộc nói chuyện thơ của Xuân Diệu, rồi đi chơi lang bang với ông, tôi thấy ngưỡng mộ ông trong chuyện ăn uống.

    Không phải không thích sơn hào hải vị hay "tẩy chay" những bữa tiệc hoành tráng, nhưng Xuân Diệu chỉ hợp nhất với những món ăn bình thường mà các gia đình miền Trung hay ăn. Ông thích ăn cá biển tươi nấu ngọt, cả loại rẻ tiền như cá nục, cá bánh đường (“Lanh lảnh ai rao: cá bánh đường!” - thơ Xuân Diệu), những loại cá vốn có rất nhiều ở chợ Quy Nhơn. Sau năm 1975, mỗi khi có dịp về quê mẹ Bình Định, Xuân Diệu đều đến ăn cơm với người bạn thuở nhỏ là ông Trà Văn Tri. Bác Tri gái là người nấu rất ngon những món dân dã mà Xuân Diệu “khoái khẩu” như cá nục kho, cá chuồn hấp cuốn bánh tráng, cá khoai nấu canh... Tôi nhớ một lần, khi mời Xuân Diệu đến ăn cơm, nhà tôi đã nấu món chả cá băm viên nấu canh, ăn với bún tươi. Ông ăn no đến nỗi đứng dậy không nổi, và bộc lộ hết sự sung sướng hài lòng của mình.

    Được phục vụ một thực khách thiệt tình đến như vậy là niềm hạnh phúc cho bất cứ bà nội trợ nào trên trái đất này, chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Qua cách ứng xử thiệt tình, cởi mở, trải lòng khi ăn một bữa cơm thường, Xuân Diệu đã chứng tỏ ông là một nhà thơ lớn. Một nhà thơ thực sự lớn luôn bình dị hết cỡ, hồn nhiên hết cỡ như vậy! Đừng tưởng, nhà thơ lớn thì phải làm bộ làm tịch, “diễn” những quả giả vờ mỗi khi đụng tới những chuyện tầm thường như miếng ăn miếng uống! Có thời, do quan niệm nhà thơ là phải nhỏ nhẻ, phải khảnh ăn, nên nhiều người cho Xuân Diệu là... ham ăn. Nhiều khi chứng kiến Xuân Diệu ăn, tôi thấy họ nói đúng. Chỉ có điều, Xuân Diệu chỉ ham ăn phần của mình thôi, không ham phần người khác. Ham ăn như vậy thì có gì xấu, nhất là khi người ta đã thật lòng đãi mình?

    Mà thưởng thức đến tận cùng những món ăn, cũng chính là một cách hành xử nghệ thuật. Đó còn hơn một thái độ. Nó là một quan niệm sống rất nhân bản, là tư tưởng thẩm mỹ. Xuân Diệu, mỗi khi được mời ăn, nhất là ở những gia đình ông thân thiết, bao giờ ông cũng ăn thật no, ăn thật đã, ăn tới mức không ăn được nữa mới hớn hở đứng dậy. “Cảm ơn vợ chồng anh giáo Huế/Đãi tôi một bữa Lệ Cần khoai”. Tôi xin bảo đảm, suốt cuộc đời vợ chồng “anh giáo Huế” - tức nhà thơ Lê Nhược Thủy - sẽ không được đón tiếp một thực khách nào tuyệt vời hơn nhà thơ Xuân Diệu với bữa tiệc “toàn khoai” như thế! Thơ đến từ đó, chứ từ đâu!

    Nhật Chung
    Nguồn Thanh Niên online
    _LoVe V-A_
    Kelly

  10. #10
    Advanced Member Shiny's Avatar
    Join Date
    Jul 2009
    Location
    V-A K11 *.*! ^''^!
    Age
    18
    Posts
    107
    Rep Power
    15

    Re: Giai thoại làng Văn

    Giai thoại về Nguyễn Du


    ---------------------------------------

    Buổi thiếu thời ở Thăng Long, Nguyễn theo học một thầy đồ bên Gia Lâm, ở tả ngạn Nhị Hà, ngày ngày qua sông để ngang trường, Nguyễn thường đi đò của cô Đỗ Thị Nhật, một thiếu nữ duyên dáng.

    Tính Nguyễn ít nói nhưng đa cảm, một hôm đến hơi trễ, phải chờ lâu, muốn trách cô lái vài lời thì lại sợ, thấy mặt thì rụt rè không dám, nên viết mấy câu vào mảnh giấy nhờ bạn đưa giùm:

    Ai ơi chèo chống tôi sang,
    Kẻo trời trưa trật, lỡ làng tôi ra.
    Còn nhiều qua lại, lại qua,
    Giúp cho nhau nữa để mà...

    Nguyễn không viết trọn câu, để thử lòng cô. Cô này trước còn khước từ không đáp, sau rồi cũng nể lòng viết hai chữ "quen nhau" điền vào.
    Từ đó cô lái tỏ vẻ ân cần, còn Nguyễn thì vẫn e lệ. Một bữa cô nói:
    - Bây giờ thay chữ "quen" bằng chữ "thương" nghe cũng đường được, cậu khoá nhỉ?

    Nguyễn sung sướng làm mấy câu nữa:

    Quen nhau nay đã nên thương,
    Cùng nhau se mối tơ vương chữ tình!
    Người xinh xinh, cảnh xinh xinh,
    Trên trời dưới nước, giữa mình với ta!

    Mối tình đương nồng mặn, thì gia đình Nguyễn hay biết, nghiêm trách và gửi đi tòng học ở Thái Bình.

    Mườinăm sau, Nguyễn có dịp trở lại bến cũ thì cô lái đã đi lấy chồng. Nguyễn ngao ngán ngâm:

    Yêu nhau, những muốn gần nhau,
    Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười.
    Vì đâu xa cách đôi nơi,
    Bến nay còn đó, nào người năm xưa?

    -------------------------------------------

    Hát phường vải

    Làng Trường Lưu thuộc huyện Nghi Xuân là một trong những làng văn vật nổi tiếng về hát phường vải, về nghề dệt vải và con gái đẹp. Làng Tiên Điền có nghề làm nón. Trai thanh phường nón thường kéo nhau sang hát với gái lịch phường vải ở Trường Lưu. Họ đi hát vì mê hát, nhưng một phần cũng vì mê các cô gái đẹp. Trong các chuyến đi ấy, Chiêu Bảy (Nguyễn Du là con thứ bảy nên gọi là Chiêu Bảy) chẳng bao giờ vắng mặt. Con đường sang Trường Lưu đã trở nên quen thuộc. Đến nay nhân dân Hà Tĩnh còn nhắc những câu Nguyễn Du cùng các cô gái đối đáp.

    Cậu Chiêu Bảy đã để thương để nhớ lại rằng:

    Phiên nào chợ Vịnh ra trông
    Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba.

    Đến khi Nguyễn Du ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn thì cô Tuyết, một trong những cô gái hát phường vải ấy trách:

    Cái tình là cái chi chi
    Anh làm tham tri em cũng biết rồi.

    Có một đêm hát nọ, Chiêu Bảy gặp một cô gái tên là Cúc, người đẹp, giọng hay, nhưng phải một nỗi quá thì mà vẫn chưa chồng. Chiêu Bảy biết thóp, liền hát chơi:

    Trăm hoa đua nở về xuân
    Cớ sao Cúc lại muộn mằn về thu?

    Chiêu Bảy vờ nói chuyện hoa để châm chọc: các cô gái khác đều đã đi lấy chồng sớm, sao riêng cô Cúc lại để quá lứa lỡ thì như vậy?

    Nhưng cô Cúc nào phải tay vừa, thoáng nghe cô đã hiểu ngay ý tứ của đối phương, bèn cất tiếng hát đáp lại:

    Vì chưng tham chút nhuỵ vàng
    Cho nên Cúc phải dềnh dàng về thu.

    Hoa cúc vốn là loài hoa nở về mùa thu, cúc nở về thu mới đang độ tươi đẹp, đúng kỳ chớ không phải muộn. Câu hỏi khôn và câu trả lời cũng thật khéo.

    -------------------------------------------

    Duyên nợ với làng Trường Lưu thì nhiều, cũng có nhiều giai thoại văn thơ. Nguyễn có quen một cô gái ở làng này. Một đêm nọ sang chơi, sau đó không sang nữa, khiến cô gái nọ ốm tương tư và bỏ luôn nghề kéo sợi. Cô gái này sau nhờ ông nghè Nguyễn Huy Quýnh ở làng Trường Lưu (là bà con bên họ ngoại với Nguyễn Du) làm một bài thơ thác lời người phường dệt mà gửi cho Nguyễn Du như sau:

    Tảng mai Hầu trở ra về
    Hồn tương tư vẫn còn mê giấc nồng.
    Cơi trầu chưa kịp tạ lòng,
    Tỉnh ra đã cách non sông mấy vời.
    Trời làm chi cực bấy trời
    Cơi trầu này để còn mời được ai ?
    Tím gan đổ hắt ra ngoài,
    Trông theo truông Hống, đò Cài thấy đâu.
    Khi lên, đổ rối cho nhau,
    Khi về, trút một gánh sầu về ngay.
    Xua buồn từ bấy đến nay,
    Nào ai mó đến xa quay, xin thề!
    Ngại ngùng đường cửi đi về
    Chân dừng dây đạp, tay e thoi chuyền.
    Lắng tai nghe tiếng ác truyền,
    Đường sầu cuốn khúc, tấm phiền đổ hoa.
    Chẹ duyên dằng lại tháo ra,
    Gần nhau cách quãng, lại xa mối hồi.
    Liều bằng khổ một gò đôi
    Coi như bóng đã bắn rồi bong bong.

    Nguyễn được bài thơ, tuy sượng sùng, nhưng cũng đành mượn lời phường nón là nghề chuyên môn của làng Tiên Điền để đối lại:

    Tiếc thay duyên Tấn phận Tần:
    Chưa quen đã lạ, chưa gần đã xa!
    Chưa chi đông đã rạng ra,
    Đến giờ chỉ giận con gà chết toi!
    Tím gan cho cái sao mai,
    Thủa nào vác búa chém trời cũng nên.
    Về qua liếc mắt trông miền,
    Lời quanh dặm dế, chửa yên dặm ngồi.
    Giữa thềm tàn đuốc còn tươi,
    Bã trầu chưa quét, nào người tình chung?
    Hồng sơn cao ngất mấy trùng.
    Đò Cài mấy trượng thì lòng bấy nhiêu!
    Làm chi cắc cớ lắm điều,
    Mới đêm hôm trước lại chiều hôm ni.
    Khi xa, xa hỡi như ri,
    Tiếng xa nghe vẫn rù rì bên tai.
    Quê nhà nắng sớm mưa mai
    Đã buồn, giở đến lịp tơi càng buồn.
    Thờ ơ đóng vọt bó sườn;
    Đã nhàm bẹ móc, lại hờm nắm giang
    Trăng tà chênh chếch bóng vàng,
    Dừng chân thoạt nhớ đến đàng cửa truông.
    Thẫn thờ gối chiếc màn suông,
    Rối lòng như sợi ai guồng chưa xong
    Phiên nào chợ Vịnh ra trông,
    Mồng ba chẳng thấy lại hòng mười ba
    Càng trông, càng chẳng thấy ra,
    Cơi trầu quệt đã để và lần ôi.
    Tưởng rằng nói thế mà chơi,
    Song le đã động lòng người lắm thay.
    Trông trời, cách mấy từng mây,
    Trông trăng, trăng hẹn đến ngày ba mươi.
    Vô tình, trăng cũng như người
    Một ta, ta lại gẫm cười chuyện ta...
    Có những ngày trời đất nhẹ thênh
    Mây lang thang lênh đênh cùng gió...

+ Reply to Thread
Page 1 of 2 12 LastLast

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts